Khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục

21 05 2008

Khớp lệnh định kỳ-Khớp lệnh liên tục (Call Auction-Continuous Auction)

Trên thị trường chứng khoán, việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.

  • Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction) là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định. Tức là, khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoán nào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường – một mức giá tốt nhất – để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh, khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.
  • Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction) trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục cũng cao hơn.

Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn được về mức giá giao dịch – Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao dịch khớp lệnh liên tục.

Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình. Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội, trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao dịch được ở mức cao nhất.

thanhlichtran





Phân Tích Kỹ Thuật Chứng Khóan

21 05 2008

Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu thông qua việc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến động của giá trong tương lai. Sau đây là một số kiến thức cơ bản về Phân tích kỹ thuật.

1. Khái niệm phân tích kỹ thuật

-          Nếu như phân tích cơ bản nghiên cứu các thông tin tài chính của một công ty, nhằm xác định một giá trị hợp lý của các cổ phiếu trên thị trường thì phân tích kỹ thuật là phương pháp chỉ dựa vào các diễn biến của giá cả và khối lượng giao dịch của chứng khoán trong quá khứ để dự đoán xu thế giá trong tương lai, từ đó đưa ra các quyết định thời điểm thích hợp để mua – bán chứng khoán.

-          Việc xác định thời điểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đầu tư chứng khoán đặc biệt là tại các thị trường hay biến động và khi thực hiện chiến lược đầu tư ngắn hạn.

-          Phân tích kỹ thuật không phụ thuộc vào các báo cáo tài chính của công ty, mà chủ yếu phụ thuộc vào giá chứng khoán, khối lượng giao dịch, các thông tin giao dịch khác bắt nguồn từ diễn biến của thị trường, và các nhà đầu tư có thể nhanh chóng nhận ra được các xu thế dịch chuyển của giá chứng khoán và xác định được điểm lý tưởng để thực hiện giao dịch tốt nhất.

2. Một số vấn đề cơ bản trong phân tích kỹ thuật:

-          Hỗ trợ (Support): Hỗ trợ là mức giá mà ở đó người mua giành quyền kiểm soát và ngăn không cho giá xuống sâu hơn, có nghĩa là tại mức giá đó người mua cảm thấy đầu tư vào cổ phiếu đó là có lợi, người bán không muốn bán cổ phiếu đó với giá thấp hơn.

-          Kháng cự (Resistance): Kháng cự là mức giá mà ở đó người bán giành quyền kiểm soát và ngăn không cho giá cổ phiếu tăng thêm nữa, có nghĩa là tại mức giá đó người bán cảm thấy lợi nhuận chấp nhận được và bán ra để thu lợi, đồng thời người mua cũng không muốn mua ở mức giá cao hơn nữa.

-          Sự hối tiếc của nhà đầu tư (Traders’ remorse): Khi giá cả chứng khoán đã vượt qua mức hỗ trợ/kháng cự, sẽ thiết lập một mức giá mới. Sự hối tiếc của nhà đầu tư sẽ diễn ra khi giá cả chứng khoán sẽ quay trở về mức hỗ trợ/kháng cự sau khi nó đã phá vỡ.

-          Phương pháp hồi quy tuyến tính: Đường hồi quy tuyến tính đơn giản là một đường khuynh hướng được vẽ giữa 2 điểm sử dụng phương pháp bình quân tối thiểu. Đường hồi quy tuyến tính thể hiện các điểm cân bằng giá.

-          Chỉ số trung bình trượt (MA – Moving Average): là giá trị trung bình tại từng điểm của giá chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật lâu đời và phổ biến nhất. Nếu giá hiện tại của cổ phiếu cao hơn trung bình trượt của nó có nghĩa kỳ vọng của nhà đầu tư cao hơn kỳ vọng trung bình trong khoảng thời gian nhất định tính đến và nhà đầu tư có xu hướng mua cổ phiếu này. Ngược lại,  giá hiện tại của cổ phiếu thấp hơn trung bình trượt của nó có nghĩa kỳ vọng của nhà đầu tư thấp hơn kỳ vọng trung bình trong khoảng thời gian nhất định tính đến và nhà đầu tư có xu hướng bán cổ phiếu.

-          MACD (Moving Average Convergence Divergence) được tính bằng cách lấy giá trị trung bình trượt 12 phiên trừ đi giá trị trung bình trượt 26 phiên. MACD = MA (12)  -  MA (26). Nếu MACD>0 tức kỳ vọng hiện tại (MA 12 ngày) cao hơn kỳ vọng trước đây (MA 26 ngày), sẽ ám chỉ một sự tăng giá hay một sự dịch chuyển theo hướng tăng giá của đường cung/cầu. Ngược lại, MACD<0 tức kỳ vọng hiện tại (MA 12 ngày) thấp hơn kỳ vọng trước đây (MA 26 ngày), sẽ ám chỉ một sự giảm giá hay một sự dịch chuyển theo hướng giảm giá của đường cung/cầu.

-          Chỉ số mức tương quan (RSI -  Relative Strength Index): là một công cụ rất thông dụng, nó không so sánh mức độ tương quan của 2 chứng khoán mà chỉ so sánh sức mạnh nội tại của một chứng khoán riêng lẻ. Chỉ số RSI là công cụ về giá và nó dao động giữa 0 và 100. Dấu hiệu mua khi RSI giảm xuống dưới 30 sau đó tăng vượt qua mức này (RSI<30: RSI đang ở khu vực đáy). Dấu hiệu bán khi RSI tăng quá mức 70 sau đó giảm xuống dưới mức ngày (RSI>70: RSI đang ở khu vực đỉnh).

Đơn giản hơn, các nhà đầu tư cần xem xét một chu kỳ biến động giá điển hình trên TTCK trong một khoảng thời gian nhất định được minh họa bằng hình vẽ sau:

-          Giá cả chứng khoán phản ánh giá trị thị trường đúng đắn của chứng khoán đó vì nó là sự thống nhất giữa cung và cầu.

-          Thay đổi trong giá cả của chứng khoán là kết quả của sự thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư về giá cả của chứng khoán trong tương lai.

-          Mức giá đáy diễn ra khi có sự đồng lòng nhất trí rằng giá cả sẽ không thể xuống thấp hơn nữa, đó là mức giá mà tại đó người mua nhiều hơn người bán.

-          Mức giá đỉnh là mức giá mà tại đó có sự đồng lòng nhất trí rằng giá chứng khoán sẽ không tăng thêm nữa. Đây là mức giá mà tại đó lượng người bán nhiều hơn người mua.

-          Xu hướng tăng thể hiện sự tăng giá liên tiếp của chứng khoán, và xu hướng tăng được nhìn nhận khi có sự tăng trong mức giá hỗ trợ, những người mua kiểm soát tình hình và đẩy giá lên cao.

-          Xu hướng giảm được thể hiện bởi sự giảm giá liên tiếp của các mức giá kháng cự và xu hướng này được xác định bởi một sự giảm trong các mức giá đỉnh, người bán giữ quyền kiểm soát và đẩy giá xuống.

-          Với các mức giá đáy đỉnh, thông thường sẽ có giai đoạn hối tiếc của các nhà đầu tư khi giá phá vỡ các đường xu hướng lên xuống.

Một số khuyến cáo trong phân tích kỹ thuật

-          Trong phân tích kỹ thuật, không nên đầu tư dựa trên các dấu hiệu của các chỉ số một cách máy móc. Luôn luôn phân tích và tìm hiểu vấn đề bản chất và cốt lõi trong việc hình thành giá chứng khoán trên thị trường là vấn đề kỳ vọng của nhà đầu tư và quan hệ cung cầu.

-          Đừng bao giờ dựa hoàn toàn vào phân tích kỹ thuật để đầu tư. Hãy kết hợp phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và đầu tư theo một danh mục thích hợp.

ST by thanhlichtran