Vì sao tỷ giá tăng?

28 03 2008

Vì sao tỷ giá tăng?

Mức tăng vọt 100 VND trên thị trường ngân hàng và 300 VND trên thị trường tự do vừa diễn ra là biến động chưa từng có trong một năm trở lại đây (khi tỷ giá bắt đầu “chảy ngược”, VND tăng giá so với USD).

Có thể xác định ở một số nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, việc Ngân hàng Nhà nước liên tục nới rộng biên độ đã tạo môi trong cho tỷ giá biến động nhanh và mạnh, phản ánh kịp thời cung – cầu ngoại tệ trên thị trường (dự báo sẽ tiếp tục nới rộng).

Thứ hai, từ đầu tháng 3 trở lại đây, cầu vốn ngoại tệ của các ngân hàng thương mại có dấu hiệu tăng trở lại; lãi suất huy động USD đồng loạt tăng mạnh với đỉnh điểm lên tới 6,9%; cạnh tranh hút vốn USD giữa các ngân hàng đang có dấu hiệu căng thẳng; cầu ngoại tệ cho nhập khẩu bắt đầu vào mùa cao điểm.

Thứ ba, sau những quyết định cắt giảm lãi suất liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), giá đồng USD trên thị trường thế giới đã phục hồi so với các đồng tiền chủ chốt. Diễn biến này có tác động nhất định đến tương quan với giá trị VND.

Thứ tư, từ cuối năm 2007 đến nay, kinh doanh ngoại tệ nhiều ngân hàng thương mại thua lỗ do USD liên tục giảm giá so với VND. Trên cơ sở cung – cầu, các ngân hàng tăng mạnh tỷ giá trở lại còn có mục đích khắc phục tình trạng trên.

Thứ năm, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh mua ngoại tệ vào đang tạo một đầu ra thuận lợi, đưa cung – cầu ngoại tệ trở lại cân bằng, thay cho tình trạng ứ đọng trước đó.

Ngoài ra, một diễn biến gần đây trên thị trường ngoại hối đang định hình là nhu cầu quy đổi VND sang USD của nhà đầu tư nước ngoài tăng lên, có thể xuất phát từ mục đích hạch toán lợi nhuận và chuyển ngoại tệ về chính quốc.

thanhlichtran




Chứng khóan cầm cố là gì?

28 03 2008

- Chứng khoán cầm cố là chứng khoán hiện đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Việt nam (bao gồm các loại cổ phiếu công ty và trái phiếu chính phủ) và được giao dịch tại thị trường giao dịch chứng khoán tập trung.
- Giá trị chứng khoán cầm cố là giá trị trung bình của chứng khoán cầm cố được tính bằng trung bình cộng của thị giá chứng khoán đó trong 5 phiên giao dịch gần nhất.

st by thanlichtran




Cổ phiếu quỹ là gì?

28 03 2008

Cổ Phiếu Quỹ là gì? các đặc điểm, đặc tính, tính chất của cổ phiếu quỹ?

cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính công ty phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình.

Thông thường các công ty mua lại số cổ phiếu của mình khi thấy cổ phiếu của mình đuối giá trên thị trường. Việc mua lại cổ phiếu của công ty sẽ làm giảm cung cổ phiếu, giúp đảo chiều giá cổ phiếu của công ty.

Tuy nhiên việc mua lại cổ phiếu phải tuân thủ qui định tổng số cổ phiếu quỹ không được vượt quá tỉ lệ vốn hóa mà nhà nước quy định.

Sau khi mua lại, công ty có thể rút bỏ số cổ phiếu này đi hoặc giữ lại bán ra thị trường.





Vài thắc mắc về giá tham chiếu

28 03 2008

Vài thắc mắc về giá tham chiếu

( Bình chọn: 4 — Thảo luận: 0 — Số lần đọc: 1137)

Câu hỏi:
Cho mình hỏi giá tham chiếu được xác định như thế nào? Giá tham chiếu có chịu ảnh hưởng gì từ các vấn đề phát hành cổ phiếu, trả cổ tức,… không?

Trả lời:

Giá tham chiếu là giá đóng cửa (giá thực hiện của lần khớp lệnh cuối cùng) của ngày giao dịch trước đó và là cơ sở để xác định giá trần, giá sàn của ngày giao dịch hiện tại. Trong quá trình theo dõi và tham gia thị trường, thỉnh thoảng người đầu tư nhận thấy Trung tâm Giao dịch Chứng khoán không lấy giá đóng cửa của một cổ phiếu nào đó trong phiên giao dịch trước đó làm giá tham chiếu cho cổ phiếu này trong ngày giao dịch tiếp theo như thường lệ. Đó là ở trường hợp ở những phiên giao dịch người đầu tư giao dịch không được nhận cổ tức bằng tiền, không được nhận thưởng bằng tiền, ngày giao dịch không được hưởng quyền mua cổ phiếu mới trong đợt phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn hay trong ngày giao dịch không được hưởng phần phát thưởng bằng cổ phiếu, ngày giao dịch không được hưởng cổ tức bằng cổ phiếu hoặc tổ hợp nào đó của các yếu tố trên. Trong đó, ngày giao dịch không hưởng cổ tức (ex-dividend date) là ngày mà nếu cổ phiếu được giao dịch (mua/bán) vào ngày đó thì người mua (người sở hữu) sẽ không được hưởng cổ tức. Cổ tức sẽ được trả cho người có tên trong danh sách hưởng cổ tức sở hữu cổ phiếu đó được lập vào ngày đăng ký (record date) cuối cùng.

Những trường hợp nêu trên có tác động lớn đến việc tính toán giá tham chiếu của Trung tâm giao dịch chứng khoán, để hiểu rõ hơn ta có thể xem một ví dụ về việc phát hành thêm cổ phiếu để huy động thêm vốn phát triển sản xuất của Công ty cổ phần giấy Hải phòng (Haphaco). Công ty này đã phát hành tăng vốn lên gấp đôi, từ hơn 10 tỷ đồng lên hơn 20 tỷ để xây dựng một dây chuyền sản xuất giấy Craft. Và cứ mỗi cổ phiếu sở hữu nhận được một quyền mua một cổ phiếu trong đợt phát hành mới. Tại đây đã xuất hiện nhu cầu về định giá chứng khoán phái sinh là quyền mua cổ phiếu và làm cơ sở để định giá bán cổ phiếu cho người có quyền. Trong thời gian đó, giá cổ phiếu Haphaco đang ở mức cao trên 60-70 ngàn đồng/cổ phiếu và thị trường đang có xu hướng suy giảm. Công ty đã xác định giá bán cho người có quyền là 50, sau đó là 40 và cuối cùng là 32 ngàn đồng/cổ phiếu trong đợt phát hành mới khi giá cổ phiếu này trên thị trường giảm xuống trên dưới 50 ngàn đồng. Và trên thực tế đã xuất hiện ngày giao dịch không hưởng quyền mua cổ phiếu này và Trung tâm giao dịch đã điều chỉnh giá tham chiếu theo công thức quy định.

Tại Khoản 3, Điều 49 của Quy chế thành viên, niêm yết, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 79/2000/QĐ -UBCK của Chủ tịch UBCKNN ngày 29/12/2000 quy định Giá tham chiếu được xác định như sau:

a. Giá tham chiếu của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và trái phiếu đang giao dịch bình thường là giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó.

b. Trường hợp chứng khoán mới được niêm yết, trong ngày giao dịch đầu tiên Trung tâm giao dịch nhận lệnh giao dịch không giới hạn biên độ dao động giá và lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch làm giá tham chiếu. Biên độ dao động giá được áp dụng từ ngày giao dịch kế tiếp.

c. Trường hợp chứng khoán thuộc diện bị kiểm soát, chứng khoán không còn thuộc diện bị kiểm soát, chứng khoán bị ngừng giao dịch trên 30 ngày, thì giá tham chiếu được xác định tương tự quy định tại điểm b.

d. Trường hợp giao dịch chứng khoán không được hưởng các quyền kèm theo, giá tham chiếu được xác định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị của các quyền kèm theo:

- Giá tham chiếu (Ptc) của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng cổ tức được tính theo công thức:

Ptc = Giá đóng cửa phiên giao dịch trước đó – giá trị cổ tức

- Giá tham chiếu của cổ phiếu (Ptc) trong ngày giao dịch không hưởng phần chia lãi bằng tiền:

Ptc = Giá đóng cửa phiên giao dịch trước đó – giá trị tiền thưởng

- Giá tham chiếu của cổ phiếu trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn: Trong trường hợp này giá tham chiếu của cổ phiếu ngày không hưởng quyền mua cổ phiếu mới (Ptc) được tính theo công thức:

PR (t-1) + (I x PR )

Ptc = ———————–
1+ I

Trong đó:
Ptc: là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành mới để tăng vốn, đây là giá cần xác định
PR(t-1): là giá chứng khoán phiên trước phiên giao dịch không hưởng quyền.
I: là tỷ lệ vốn tăng
PR: là giá cổ phiếu sẽ bán cho người nắm giữ quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành mới.

e. Trường hợp tách gộp cổ phiếu, giá tham chiếu sau khi tách gộp được xác định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày tách gộp điều chỉnh theo tỷ lệ tách gộp cổ phiếu.

f. Trong một số trường hợp cần thiết, Trung tâm giao dịch có thể áp dụng phương pháp xác định giá tham chiếu khác sau khi có sự chấp thuận của Chủ tịch UBCKNN.





Thị Trường Chứng Khóan là gì?

28 03 2008

Thị trường chứng khoán – cơ chế vận hành


Thị trường chứng khoán (TTCK) làm trung gian giữa công chúng (vòng 4) với công ty (vòng 1) . Hai vòng này lúc lắc trái chiều nhau ; vì công chúng có ít tiền, muốn kiếm lãi cao, lại còn muốn rút vốn ra bất cứ lúc nào ; trong khi ấy công ty muốn vốn vào nhiều mà ở lại lâu. ở bài đầu chúng ta đã nói đây là hai đòi hỏi cực đoan.
Vai trò của TTCK là hoá giải hai cái cực đoan ấy ; nghĩa là nó làm cho hai vòng kia vẫn gắn với nhau dù lúc lắc trái chiều nhau. Xin quý vị tưởng tượng ra một cái bạc đạn (vòng bi). Nó có hai vòng lớn nhỏ phải không ? Nhưng các viên bi ở giữa được thay bằng một lớp keo dày, dẻo giống như kẹo cao su (chewing gum) đã nhai lâu. Lớp keo đó là TTCK.

Chúng ta sẽ nói về chất keo kia, tức TTCK vận hành thế nào, trong phần hai của loạt bài này. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, chất keo không thể làm hai vòng kia dính mãi nếu bản thân hai cái vòng không có một cái gì chung làm điểm nối kết. Điểm chung đó là tiền lời hay lãi mà người đầu tư đòi hỏi thì công ty phải đáp ứng cho được qua việc kinh doanh của mình. Tiền cũng giống như nước, nó chảy vào chỗ trũng. Công ty phải là chỗ trũng thì nước mới chảy vào. Đó là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của một TTCK.

Về mặt vĩ mô, TTCK không có vốn để cung cấp cho công ty. Nó chỉ hỗ trợ công ty theo tinh thần “anh hãy tự giúp trước, rồi trời sẽ giúp sau”. Sau khi người đầu tiên (là công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán) đã trả hết tiền mua chứng khoán mà công ty bán ra thì TTCK làm xong việc giao vốn dài hạn cho công ty. Nó không làm gì khác cho công ty nữa. Công ty cũng không phải trả lãi, trả vốn cho TTCK, như phải làm với ngân hàng. Việc đăng ký và niêm yết chứng khoán công ty làm với cơ quan chính quyền quản lý sự giao dịch chứng khoán và với Sở Giao dịch chứng khoán là nơi quản lý cái chợ, chứ không phải với TTCK. Vì vậy, công ty phải tự làm ăn mà trả lời, trả lãi cho những người đã hay sẽ mua chứng khoán của họ. Trong số công việc của mình, TTCK phục vụ công ty khoảng 10 %, còn phục vụ những người mua chứng khoán đến 90 %. Việc phục vụ sau gồm hai công tác chính : (1) làm sao cho họ có thể kiếm lời từ việc mua bán chứng khoán trên thị trường ; và (2) cho họ rút tiền ra lúc nào cũng được. Cách duy nhất mà TTCK làm để thực hiện tốt hai công tác kia, là làm sao cho có thật nhiều người tham gia vào nó, càng đông càng tốt. Đông người mua ắt sẽ bán dễ, vậy là có sự mua bán để kiếm lời. Nhiều người mới sẵn sàng vào thì người cũ bán chứng khoán cho họ, như vậy là rút ra lúc nào cũng được. TTCK cũng không bảo đảm cho người đầu tư là cứ mua bán chứng khoán sẽ có lời, hay cho vay ở TTCK là có lãi cao. Những thứ này tuỳ thuộc vào các công ty đã bán chứng khoán và hoạt động của họ, và tuỳ cách người đầu tư đã đặt mua bán như thế nào.

Cách làm của TTCK là sử dụng một số công nghệ để :

Giá mua bán sẽ là một giá công bằng (fair), một bên không thể bắt chẹt bên kia vì nắm nhiều thông tin hơn ;

Có sẵn thanh khoản, tức là lúc nào cũng có tiền mặt để thanh toán hay là người bán hay mua chứng khoán dù nhiều hay ít thì cũng không bị dìm giá hay tăng giá vì không có sẵn tiền mặt ;

Chi phí cho việc mua bán thấp ;

Việc thanh toán tiền nong giữa một số rất đông người diễn ra nhanh chóng và thuận tiện và

Mọi giao dịch diễn ra trong sự thanh liêm và trong sáng. Bốn yếu tố đầu có tính thương mại hay vật chất, còn yếu tố cuối là tinh thần ; và tất cả đều nhằm phục vụ người đầu tư.

Tư cách của người mua bán chứng khoán

Khi phát hành chứng khoán, công ty sẽ ấn định một giá bán ban đầu được ghi trên chứng khoán, gọi là mệnh giá. Mệnh giá sẽ lên hay xuống để thành giá thực tế lúc mua hay bán gọi là thực giá. Thực giá thay đổi tuỳ theo người muốn mua hay bán chứng khoán thấy công ty trả cổ tức hay tiền lãi ra sao (năm trước trả bao nhiêu, năm nay có thể sẽ trả bao nhiêu) và tuỳ vào sự đánh giá của họ về triển vọng kinh doanh của công ty (sản phẩm sẽ bán chạy không). Hai yếu tố này tỷ lệ thuận với nhau nhưng lại tạo ra hai loại người mua bán khác nhau. Người nào mua hay bán chứng khoán mà dựa trên triển vọng kinh doanh tương lai của công ty thì người đó mong kiếm lời từ chính việc mua bán ; và họ là người đầu cơ (speculator) hay người kinh doanh chứng khoán. Người đầu cơ ở TTCK khác hẳn người đầu cơ ở thị trường hàng hoá, họ cần thiết cho TTCK, chúng ta sẽ xem về họ ở bài 18. Còn người nào chỉ mua chứng khoán để mong hưởng cổ tức hay tiền lãi đều đặn, thì người đó là người đầu tư bảo thủ hay người nuôi chứng khoán.

Dù là người đầu cơ hay người bảo thủ thì cả hai đều là người đầu tư. Nếu người bảo thủ không bán chứng khoán đi thì họ ngồi ở vòng 1, còn người đầu cơ thì luôn luôn ở vòng 4. Vị trí của họ có thể thay đổi từ vòng nọ sang vòng kia, tuỳ theo cách họ ra lệnh cho công ty môi giới mua bán chứng khoán của một công ty như thế nào.